Phóng viên VOV.VN đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội về vấn đề này.
PV: Vì sao người dân thường lo ngại việc sáp nhập đơn vị hành chính sẽ làm mất đi bản sắc, tên làng hay các giá trị tâm linh? Theo ông, tại sao chúng ta cứ phải xóa tên cũ để đặt một cái tên ghép cơ học thay vì giữ lại cái tên có bề dày lịch sử nhất để làm định danh chung?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi nghĩ nỗi lo ấy là rất thật và rất đáng được lắng nghe. Bởi với người dân, làng không chỉ là một đơn vị cư trú, càng không đơn thuần là một ô trên bản đồ hành chính. Làng là nơi có đình, chùa, miếu, cây đa, bến nước, nghĩa trang, đường làng, giếng cổ; là nơi có gia phả, hương ước, lễ hội, ký ức tổ tiên và cả những câu chuyện truyền từ đời này sang đời khác. Khi nghe nói sáp nhập, điều người dân lo không chỉ là thay đổi địa giới, mà là sợ mất tên gọi thân thuộc, mất cảm giác thuộc về, mất điểm tựa tinh thần đã neo giữ cộng đồng qua nhiều thế hệ.
Vì vậy, tôi cho rằng trong sắp xếp đơn vị hành chính, chúng ta phải phân biệt rất rõ giữa đổi mới quản trị và xóa bỏ ký ức. Nhà nước có thể cần tổ chức lại địa giới để quản lý hiệu quả hơn nhưng không vì thế mà ứng xử với tên làng, tên thôn, tên xóm như những ký hiệu có thể thay thế tùy tiện. Một cái tên làng nhiều khi chứa trong nó cả lịch sử lập làng, dấu vết ngôn ngữ, nghề nghiệp truyền thống, phong tục, địa hình, thậm chí cả khí chất của một cộng đồng. Xóa một cái tên không chỉ là xóa vài chữ trên biển hiệu mà có thể làm đứt một mạch liên tưởng văn hóa rất sâu trong tâm thức người dân.
Tôi không nghĩ chúng ta “cứ phải” đặt những cái tên ghép cơ học như xã AB, xã CD. Đó là cách dễ làm về hành chính, nhưng chưa chắc là cách hay về văn hóa. Nếu trong các đơn vị được sáp nhập có một địa danh có bề dày lịch sử, có sức nhận diện rộng, được cộng đồng thừa nhận, có khả năng đại diện cho vùng đất mới thì hoàn toàn nên ưu tiên sử dụng làm định danh chung. Tất nhiên, việc lựa chọn tên gọi không nên áp đặt từ trên xuống, cũng không nên biến thành cuộc tranh chấp danh xưng giữa các cộng đồng mà cần có tiêu chí rõ ràng: Giá trị lịch sử, tính phổ biến, khả năng đại diện, sự đồng thuận xã hội và ý nghĩa phát triển trong tương lai.
Nói cách khác, sáp nhập đơn vị hành chính phải đi cùng một nguyên tắc văn hóa: Địa giới có thể thay đổi nhưng ký ức cộng đồng không được bị xóa bỏ.
PV: Làng xã cũ gắn liền với tâm lý “trâu ta ăn cỏ đồng ta”. Khi ép hai, ba cộng đồng có cá tính khác nhau vào một ranh giới hành chính, ông có lo ngại sự sáp nhập cơ học này sẽ tạo ra những “xung đột ngầm” về lợi ích kinh tế và không gian sinh hoạt, thay vì tự động tạo ra một không gian văn hóa mở?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Có chứ. Và nếu chúng ta không nhìn thẳng vào nguy cơ ấy thì rất dễ chủ quan. Một quyết định hành chính có thể được ban hành trong thời gian ngắn nhưng để các cộng đồng thật sự hòa nhập với nhau thì cần thời gian, sự thấu hiểu và một quá trình kiến tạo đồng thuận rất kiên trì.
Làng xã Việt Nam có truyền thống cố kết rất mạnh. Đó là sức mạnh nhưng đôi khi cũng tạo nên tâm lý khép kín, cục bộ, “Trống làng nào làng ấy đánh”. Câu nói “trâu ta ăn cỏ đồng ta” phản ánh một thực tế là mỗi cộng đồng đều có không gian sinh kế, không gian tín ngưỡng, không gian sinh hoạt và cả những lợi ích riêng. Khi hai, ba làng được đưa vào một đơn vị hành chính mới, nếu chỉ gộp dân số, gộp hồ sơ, gộp trụ sở mà không xử lý hài hòa các quan hệ lợi ích thì những va chạm ngầm rất dễ xuất hiện: Ai được ưu tiên đầu tư đường sá, nhà văn hóa đặt ở đâu, trường học thuộc khu nào, lễ hội nào được coi là lễ hội chung, nguồn lực đất đai phân bổ ra sao, cán bộ đại diện cho cộng đồng nào nhiều hơn…
Điều đáng lo nhất không phải là khác biệt văn hóa, bởi khác biệt có thể làm phong phú đời sống chung. Điều đáng lo là sự khác biệt ấy không được nhận diện, không được đối thoại, không được thiết kế cơ chế dung hòa. Khi đó, sáp nhập có thể tạo ra một đơn vị hành chính lớn hơn nhưng chưa chắc tạo ra một cộng đồng văn hóa rộng mở hơn.
Vì vậy, theo tôi, trước khi sáp nhập, cần có đánh giá tác động xã hội và văn hóa chứ không chỉ đánh giá về dân số, diện tích, biên chế. Phải biết các cộng đồng ấy có quan hệ lịch sử với nhau thế nào, có tranh chấp đất đai, nguồn nước, nghĩa trang, đình chùa, lễ hội, chợ, trường học hay không. Sau sáp nhập, cần có cơ chế đại diện công bằng, đối thoại thường xuyên, phân bổ nguồn lực minh bạch, tránh để người dân có cảm giác làng mình bị “lép vế” trong không gian mới.
Một không gian văn hóa mở không tự nhiên sinh ra từ một quyết định gộp địa giới. Nó chỉ hình thành khi chính quyền biết tổ chức đối thoại, biết chia sẻ lợi ích, biết tôn trọng bản sắc riêng và biết tạo ra những giá trị chung đủ lớn để các cộng đồng cùng hướng tới.
PV: Nhiều tên làng cổ, tên Nôm như kẻ Mọc, kẻ Chèm, làng Lủ, làng Nôm… được ví như những “hóa thạch ngôn ngữ và lịch sử”. Nếu sau sáp nhập, những cái tên này bị thay thế hoàn toàn bằng các danh xưng cơ học như “Thôn 1”, “Tổ dân phố mới X”, việc mất các cái tên này ảnh hưởng thế nào đến ký ức cộng đồng? Có giải pháp thực tế nào để giữ lại các tên cổ này không?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi rất đồng tình với cách gọi những tên làng cổ là “hóa thạch ngôn ngữ và lịch sử”. Mỗi tên Nôm, mỗi tên cổ là một lớp trầm tích văn hóa. Trong đó có dấu vết của cư dân, địa hình, nghề nghiệp, tín ngưỡng, quan hệ xã hội, thậm chí cả những biến thiên lịch sử mà nếu mất tên gọi thì việc truy tìm nguồn gốc sẽ khó hơn rất nhiều.
Những cái tên như kẻ Mọc, kẻ Chèm, làng Lủ, làng Nôm không chỉ là địa danh. Chúng là mật mã văn hóa. Chúng giúp người dân biết mình từ đâu đến, thuộc về đâu, khác biệt với ai và có trách nhiệm gì với nơi chốn của mình. Khi những cái tên ấy bị thay bằng “Thôn 1”, “Tổ dân phố số 2”, “Khu dân cư mới X”, chúng ta có thể thuận lợi hơn trong quản lý hồ sơ, nhưng lại làm nghèo đi trí nhớ của cộng đồng. Một xã hội hiện đại không thể chỉ sống bằng mã số, tuyến đường, ô quy hoạch; nó còn cần ký ức, biểu tượng và cảm xúc thuộc về.
Giải pháp không thiếu, vấn đề là chúng ta có coi trọng hay không. Trước hết, cần lập danh mục địa danh truyền thống ở từng địa phương, trong đó ghi rõ tên cổ, tên Nôm, tên Hán Việt, lịch sử hình thành, gắn với di tích, lễ hội, dòng họ, nghề nghiệp, sự kiện. Đây phải được xem là một phần của di sản văn hóa phi vật thể ở cấp cộng đồng.
Thứ hai, khi đặt tên đơn vị hành chính mới, đường phố, trường học, nhà văn hóa, công viên, quảng trường, tuyến du lịch, sản phẩm OCOP, cần ưu tiên sử dụng các địa danh cổ có giá trị. Một cái tên làng có thể không còn là tên xã, nhưng vẫn có thể sống trong tên đường, tên trường, tên lễ hội, tên không gian sáng tạo, tên sản phẩm du lịch, tên bảo tàng cộng đồng.
Thứ ba, cần số hóa các địa danh này. Mỗi làng cổ có thể có một hồ sơ số: bản đồ di sản, câu chuyện địa danh, ảnh tư liệu, phỏng vấn người cao tuổi, gia phả, sắc phong, hương ước, lễ hội, nghề truyền thống. Khi người trẻ quét mã QR ở đình làng, cổng làng, bia di tích hay nhà văn hóa, họ có thể hiểu vì sao làng mình mang tên ấy. Đó là cách để tên cổ không chỉ nằm trong hoài niệm, mà bước vào đời sống số một cách sống động.
Tôi cho rằng, giữ tên làng cổ không phải là níu kéo quá khứ. Đó là cách làm cho hiện đại có gốc rễ, để phát triển không trở thành một quá trình vô danh.
PV: Khi gộp các làng có hương ước, lệ làng khác nhau, thậm chí mâu thuẫn nhau, làm sao để xây dựng được một bản quy ước chung cho xã mới mà không làm cào bằng hay mất đi nét đẹp riêng của từng làng?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Hương ước, lệ làng là một hình thức tự quản rất đặc biệt của cộng đồng Việt Nam. Trong đó có những giá trị đẹp như khuyến học, tương trợ, giữ gìn nếp sống, bảo vệ cảnh quan, tôn trọng người cao tuổi, giữ gìn lễ hội, nghĩa tình xóm giềng. Nhưng cũng phải thẳng thắn nói rằng không phải lệ làng nào cũng còn phù hợp. Có những tập quán cần được bảo tồn, có những tập quán cần được điều chỉnh, và có những tập quán phải loại bỏ nếu trái pháp luật, trái bình đẳng giới, trái quyền con người, gây tốn kém, phân biệt đối xử hoặc cản trở phát triển.
Khi sáp nhập, không nên lấy một hương ước của làng này áp cho làng khác, cũng không nên làm một bản quy ước chung quá chung chung đến mức vô hồn. Theo tôi, cần một cách tiếp cận hai tầng.
Tầng thứ nhất là quy ước chung của đơn vị hành chính mới, tập trung vào những nguyên tắc căn bản: tuân thủ pháp luật, đoàn kết cộng đồng, bảo vệ môi trường, xây dựng nếp sống văn minh, phát huy dân chủ ở cơ sở, chia sẻ không gian công cộng, giữ gìn an ninh trật tự, khuyến học, khuyến tài, tương trợ người yếu thế. Đây là “mẫu số chung” để các cộng đồng cùng sống trong một không gian quản trị mới.
Tầng thứ hai là phụ lục văn hóa của từng làng, từng thôn, từng khu dân cư, trong đó ghi nhận những phong tục, lễ hội, nghi thức, nghề nghiệp, biểu tượng, quy tắc ứng xử riêng, miễn là không trái pháp luật và không xâm phạm lợi ích chung. Như vậy, xã mới có quy ước chung để bảo đảm thống nhất, nhưng từng làng vẫn có không gian để giữ bản sắc.
Quá trình xây dựng quy ước phải được làm theo tinh thần đối thoại. Cần mời người cao tuổi, trưởng họ, nghệ nhân, chức sắc tôn giáo, ban công tác mặt trận, phụ nữ, thanh niên, giáo viên, người làm văn hóa cùng tham gia. Cái gì là tinh hoa thì giữ, cái gì lỗi thời thì điều chỉnh, cái gì gây chia rẽ thì bỏ, cái gì có thể trở thành giá trị chung thì nâng lên thành quy tắc chung.
Tôi nghĩ, bản quy ước tốt không phải là bản văn bản làm cho các làng giống nhau mà là văn bản giúp các làng khác nhau vẫn sống được với nhau trong sự tôn trọng.
PV: Khi áp dụng mô hình “làng trong xã”, “làng trong phường” để giữ hồn quê trong thời đại mới, chúng ta cần phân định ranh giới thế nào giữa quyền quản lý của chính quyền và quyền tự quản của cộng đồng để hai bên không giẫm chân lên nhau?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Mô hình “làng trong xã”, “làng trong phường” là một gợi ý rất đáng suy nghĩ, đặc biệt trong bối cảnh đô thị hóa và sáp nhập hành chính đang diễn ra mạnh mẽ. Bởi nhiều nơi dù đã trở thành phường, trở thành khu đô thị, nhưng trong lòng nó vẫn có làng cũ, đình cũ, lễ hội cũ, dòng họ cũ, nếp sống cũ. Nếu không nhận diện đúng, chúng ta sẽ quản lý đô thị bằng tư duy hành chính thuần túy mà quên mất rằng bên dưới lớp bê tông, chung cư, đường phố vẫn còn một cấu trúc văn hóa làng rất bền bỉ.
Theo tôi, cần phân định khá rõ: chính quyền quản lý những vấn đề thuộc về pháp luật, quy hoạch, hạ tầng, đất đai, ngân sách, an ninh, môi trường, phòng cháy chữa cháy, trật tự xây dựng, dịch vụ công. Đây là những lĩnh vực không thể giao hoàn toàn cho cộng đồng tự quyết, vì liên quan đến lợi ích chung và kỷ cương pháp luật.
Còn cộng đồng cần được trao không gian tự quản trong những việc thuộc về đời sống văn hóa: tổ chức lễ hội truyền thống, gìn giữ đình chùa, miếu mạo, chăm sóc nghĩa trang, truyền dạy nghề, bảo tồn tiếng nói, phong tục, ẩm thực, trò chơi dân gian, quy tắc ứng xử trong cộng đồng, hoạt động khuyến học, tương trợ, chăm lo người già, trẻ em, người yếu thế. Tất nhiên, quyền tự quản ấy phải nằm trong khuôn khổ pháp luật, không được biến thành “lệ làng cao hơn phép nước”.
Để hai bên không giẫm chân lên nhau, cần có cơ chế phối hợp rõ ràng. Ví dụ, với lễ hội, cộng đồng là chủ thể văn hóa, còn chính quyền hỗ trợ về an ninh, y tế, giao thông, vệ sinh môi trường, kiểm soát thương mại hóa và bảo đảm an toàn. Với di tích, cộng đồng tham gia trông nom, kể chuyện, truyền dạy ký ức, còn chính quyền chịu trách nhiệm tu bổ theo quy định chuyên môn, huy động nguồn lực và bảo vệ pháp lý. Với không gian công cộng, chính quyền quy hoạch và đầu tư nhưng phải tham vấn cộng đồng để không làm tổn thương các điểm thiêng, điểm nhớ của làng.
Tôi vẫn cho rằng, quản trị hiện đại không phải là chính quyền làm thay cộng đồng mà là tạo điều kiện để cộng đồng tự quản tốt hơn. Khi chính quyền biết tôn trọng chủ thể văn hóa ở cơ sở và cộng đồng biết vận hành trong khuôn khổ pháp luật, “làng trong xã”, “làng trong phường” sẽ không phải là sự hoài cổ, mà là một mô hình quản trị văn hóa mềm, nhân văn và rất Việt Nam.
PV: Theo Nghị quyết 80-NQ/TW năm 2026, văn hóa phải gắn với chuyển đổi số và công nghiệp văn hóa. Việc hình thành không gian hành chính lớn hơn sau sáp nhập sẽ mang lại lợi thế cụ thể nào cho việc số hóa di sản và làm du lịch làng nghề?
PGS.TS Bùi Hoài Sơn: Tôi nghĩ, nếu nhìn ở góc độ tích cực, sáp nhập không chỉ là câu chuyện giảm đầu mối hành chính. Nó còn có thể tạo ra một không gian phát triển rộng hơn, đủ nguồn lực hơn, đủ dữ liệu hơn và đủ sức tổ chức những sản phẩm văn hóa - du lịch có quy mô hơn. Vấn đề là chúng ta có biết biến không gian hành chính mới thành không gian phát triển văn hóa hay không.
Trước hết, đơn vị hành chính lớn hơn giúp việc số hóa di sản có điều kiện làm đồng bộ hơn. Trước đây, mỗi làng, mỗi xã có thể lưu giữ tư liệu theo cách riêng, manh mún, thiếu chuẩn hóa. Sau sáp nhập, địa phương mới có thể xây dựng một cơ sở dữ liệu chung về di sản: đình, chùa, miếu, nhà cổ, lễ hội, nghề truyền thống, nghệ nhân, sắc phong, hương ước, địa danh cổ, ẩm thực, tri thức dân gian. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, liên thông, cập nhật thường xuyên, di sản không chỉ được bảo tồn tốt hơn mà còn có thể trở thành tài nguyên cho giáo dục, du lịch, truyền thông và công nghiệp văn hóa.
Thứ hai, không gian hành chính lớn hơn giúp kết nối các điểm di sản thành tuyến, cụm, vùng trải nghiệm. Một làng nghề riêng lẻ có thể hấp dẫn nhưng khó giữ chân du khách lâu. Nếu biết kết nối làng nghề với di tích, lễ hội, ẩm thực, cảnh quan, homestay, sản phẩm OCOP, không gian sáng tạo, trải nghiệm giáo dục cho học sinh thì giá trị sẽ tăng lên rất nhiều. Khi đó, du lịch làng nghề không chỉ là “đến xem người ta làm nghề” mà là trải nghiệm một hệ sinh thái văn hóa.
Thứ ba, quy mô mới giúp địa phương dễ huy động nguồn lực hơn: đầu tư hạ tầng số, xây dựng bản đồ du lịch thông minh, thiết kế ứng dụng thuyết minh tự động, gắn mã QR tại di tích và làng nghề, tổ chức sàn thương mại điện tử cho sản phẩm thủ công, đào tạo người dân làm du lịch cộng đồng, xây dựng thương hiệu chung cho vùng văn hóa. Một làng nhỏ có thể khó làm những việc này, nhưng một xã, một phường, một cụm địa phương sau sáp nhập nếu có tầm nhìn thì hoàn toàn có thể làm được.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh: công nghiệp văn hóa không có nghĩa là thương mại hóa bằng mọi giá. Số hóa di sản không phải chỉ để quảng bá mà trước hết để hiểu đúng, lưu giữ đúng, kể đúng câu chuyện của cộng đồng. Du lịch làng nghề không được biến làng thành sân khấu giả, không được làm méo mó nghi lễ, không được biến nghệ nhân thành người trình diễn rẻ tiền cho khách qua đường. Phát triển phải làm cho người dân có sinh kế tốt hơn, tự hào hơn, gắn bó hơn với di sản của mình.
Tinh thần của Nghị quyết 80-NQ/TW, theo tôi, gợi mở một cách tiếp cận rất quan trọng: văn hóa không chỉ là cái cần bảo tồn sau cùng, mà là nguồn lực đi trước, là nền tảng để phát triển bền vững. Nếu biết làm đúng, sáp nhập hành chính có thể không làm mất làng, mà giúp làng bước vào không gian phát triển mới - rộng hơn, hiện đại hơn, nhưng vẫn có gốc rễ, có ký ức và có linh hồn.
PV: Xin cảm ơn ông!
Bình luận
Bình luận của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng
Đang tải bình luận...