Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong hơn 3 thập kỷ (từ 1990 đến 2022), số ca bệnh béo phì trên toàn cầu đã tăng gấp 4 lần ở trẻ em và thanh thiếu niên, tăng gấp 2 lần ở người lớn. Tại Việt Nam, căn bệnh này đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng.
Nếu như năm 2010, tỷ lệ béo phì ở nước ta chỉ khoảng 2,6%, thì đến năm 2014, đã tăng lên 3,6%, tương đương mức tăng 38% chỉ trong vòng 4 năm. Đáng chú ý, tình trạng béo phì có sự chênh lệch rõ rệt giữa thành thị (22,1%), gần gấp đôi nông thôn (11,2%), nhất là ở các đô thị lớn (trước sáp nhập) như Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh.
Điều đáng báo động hơn cả là tình trạng thừa cân, béo phì thường gặp ở độ tuổi từ 5-19. Nếu năm 2010, chỉ có 8,5% trẻ em bị thừa cân, thì đến năm 2020, con số này đã tăng gấp đôi, ở mức 19%. Trong đó, trẻ em ở khu vực thành thị chiếm 26,8%, so với 18,3% ở nông thôn và 6,9% ở miền núi.
Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở người trưởng thành (25-64 tuổi) cũng tăng lên đáng kể. Năm 2005 chỉ 6,6%, đến năm 2020 đã tăng lên trên 20%. Việt Nam hiện nằm trong nhóm các quốc gia có tốc độ tăng béo phì nhanh nhất.
Thủ phạm số một của các bệnh về tim mạch
Trong Chương trình tư vấn trực tuyến về chủ đề “Béo phì và một số bệnh lý liên quan” do Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) vừa tổ chức, các chuyên gia nhấn mạnh: béo phì không chỉ là vấn đề thẩm mỹ mà là một bệnh lý mạn tính, phức tạp, liên quan đến hơn 200 bệnh khác.
Chia sẻ trong chương trình, GS. TS. BS. Phạm Mạnh Hùng, Chủ tịch Liên đoàn Tim mạch Đông Nam Á, Trưởng Bộ môn Tim mạch, Trường Đại học Y Hà Nội, cho biết: “Năm 2021, ước tính có gần 2 triệu ca tử vong do bệnh lý tim mạch liên quan tới thừa cân béo phì trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, từ 1990 đến 2019, nguy cơ tử vong liên quan đến béo phì đã tăng lên 5 lần tức là 500%, và đang tiếp tục tăng. Trong khi ở các nước thu nhập cao, tỷ lệ này chỉ là 40%”.
Các nghiên cứu cho thấy, người béo phì mức độ 3 đối mặt với nguy cơ tử vong do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và các bệnh lý về máu khác sẽ cao hơn 40%, tuổi thọ có thể giảm 8-10 năm so với người bình thường. Đáng chú ý, người mắc đái tháo đường kèm béo phì có nguy cơ tử vong tăng khoảng 7 lần so với người chỉ mắc đái tháo đường.
Ngưng thở khi ngủ - biến chứng âm thầm nhưng nghiêm trọng
TS. BS Phạm Thanh Thủy, Trung tâm Hô hấp, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, béo phì là tác nhân nguy hiểm làm tăng thêm hơn 30% nguy cơ ngưng thở khi ngủ. Theo các nghiên cứu, cứ tăng 10% cân nặng, nguy cơ ngưng, giảm thở khi ngủ sẽ tăng 32%; tăng 20% cân nặng, chỉ số này có thể tăng đến 70%. Đặc biệt, những bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể (BMI) cao trên 40 ghi nhận tỷ lệ mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ có thể lên đến 98%.
TS Thuỷ cũng nhấn mạnh, những bệnh nhân mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể đối mặt rất nhiều biến chứng. Điển hình là biến chứng về tim mạch, như tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, suy tim hoặc rối loạn nhịp tim. Ngoài ra, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống vì bệnh nhân thường buồn ngủ vào ban ngày dễ dẫn đến các tai nạn lao động, tai nạn giao thông…
Giảm cân - giải pháp then chốt để giảm bệnh tật và tử vong
GS. TS. BS. Phạm Mạnh Hùng nhấn mạnh, chỉ cần giảm 5-10% cân nặng sẽ cải thiện 10% tình trạng ngưng thở khi ngủ nặng. Ông cũng cho biết mức giảm cân này mang lại nhiều lợi ích sức khỏe khác, như giảm khoảng 5-10% nguy cơ mắc bệnh động mạch vành, cải thiện tình trạng huyết áp, giảm nguy cơ mắc hội chứng ngưng thở khi ngủ, giảm gan nhiễm mỡ không do rượu, viêm khớp. Một số trường hợp chỉ cần giảm 3-10% cân nặng, nguy cơ đái tháo đường týp 2, tình trạng rối loạn lipid máu cũng cải thiện đáng kể.
Với bệnh nhân đái tháo đường típ 2 kèm thừa cân - béo phì, khi giảm ít nhất 10% cân nặng trong vòng một năm, sẽ giúp giảm được 21% nguy cơ tử vong do biến cố tim mạch.
Giảm cân như thế nào để an toàn và bền vững?
Các chuyên gia cho rằng, béo phì là một bệnh lý phức tạp do nhiều nguyên nhân, nhiều yếu tố gây ra, gồm cả yếu tố sinh học (bệnh lý), tâm lý xã hội, lối sống, dinh dưỡng. Vì vậy, điều trị bệnh béo phì không chỉ giảm cân đơn thuần mà cần phải điều trị toàn diện, bao gồm: Dinh dưỡng khoa học: hạn chế đồ ăn chế biến sẵn, nước ngọt, đồ chiên rán; tăng cường rau xanh, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt, bổ sung protein nạc (cá, thịt gà không da, trứng, đậu…), uống 2–3 lít nước mỗi ngày, chia nhỏ bữa ăn để tránh ăn quá nhiều vào bữa chính. Tăng vận động: tập tối thiểu 30 phút/ngày, đi bộ, leo cầu thang, vận động trong sinh hoạt thường ngày, tăng dần cường độ khi cơ thể đã thích nghi. Chăm sóc sức khỏe tinh thần: giảm stress bằng yoga, thiền, đọc sách, ngủ đủ giấc. Thay đổi hành vi và điều trị y khoa khi cần: tuân thủ tư vấn của bác sĩ, sử dụng thuốc điều trị béo phì khi được chỉ định, cân nhắc can thiệp ngoại khoa trong trường hợp bệnh nặng.
Giảm cân không xảy ra trong “một sớm một chiều”, mà là cả một hành trình dài đòi hỏi sự chủ động, kiên trì và phương pháp đúng đắn. Bằng sự quyết tâm, kiên trì và áp dụng đúng phương pháp, người thừa cân, béo phì có thể sở hữu một vóc dáng cân đối, tinh thần lạc quan, và quan trọng hơn hết là một cơ thể khỏe mạnh, phòng ngừa bệnh tật, kéo dài cuộc sống và hạnh phúc gia đình.
Bình luận
Bình luận của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng
Đang tải bình luận...