"Rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm - “chìa khóa” thực thi nghị quyết Đại hội"

VOV.VN - Sau thành công Đại hội XIV của Đảng, việc triển khai nghị quyết vào thực tiễn cuộc sống được đặt ra như một yêu cầu cấp thiết. Nhiều ý kiến cho rằng, khi có sự chỉ đạo thống nhất, quyết liệt và truyền cảm hứng từ Trung ương, tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị được nâng lên rõ rệt.

Thể chế hóa Nghị quyết Đại hội XIV vào pháp luật

Sau thành công của Đại hội XIV của Đảng, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Chỉ thị số 01 về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội. Sau đó, Tổng Bí thư có bài viết "Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”.

PGS.TS Nguyễn Hoàng Hiển, Học viện Khoa học xã hội cho rằng, khi người đứng đầu Đảng trực tiếp chỉ đạo, yêu cầu và truyền cảm hứng, thì tinh thần trách nhiệm của cả hệ thống chính trị được nâng lên rõ rệt. Đây không chỉ là mệnh lệnh hành chính hay chỉ đạo chính trị mà còn là sự định hướng về tư tưởng, về quyết tâm hành động và niềm tin chiến lược, mang ý nghĩa rất lớn trong việc khắc phục căn bệnh "đầu voi đuôi chuột" trong triển khai nghị quyết.

PGS.TS Nguyễn Hoàng Hiển nhận xét, Chỉ thị 01 đã xác lập rõ nguyên tắc, yêu cầu và phương thức triển khai thống nhất trong toàn Đảng, qua đó hạn chế tối đa tình trạng làm qua loa, đối phó, học tập nghị quyết theo lối hình thức, nặng về nghi thức mà nhẹ về hành động. Bài viết của Tổng Bí thư như một lời "hịch" trong thời đại mới, tạo ra khí thế và động lực mạnh mẽ cho toàn hệ thống.

Phát biểu tại hội thảo “Những giải pháp đưa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng vào cuộc sống” tổ chức ngày 2/2 tại Hà Nội, Trung tướng, GS.TS Trần Vi Dân cho rằng, để Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống cần có cách thức tổ chức triển khai phù hợp, gắn với từng nhóm đối tượng cụ thể. Việc quán triệt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” phải được thực hiện xuyên suốt trong toàn bộ quá trình triển khai nghị quyết. Đồng thời, Nghị quyết cần được thể chế hóa thành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện một cách liên tục, nghiêm túc, với tinh thần trách nhiệm cao.

Đồng tình với quan điểm này, PGS.TS Phạm Thị Thúy Nga, Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật cho rằng, thể chế hóa Nghị quyết thành chính sách, pháp luật là khâu then chốt để Nghị quyết sớm đi vào cuộc sống. Theo thống kê của Bộ Tư pháp (tháng 12/2025), hiện có khoảng 5.000 văn bản pháp luật đang có hiệu lực, song vẫn tồn tại hàng trăm quy định mâu thuẫn, chồng chéo. Riêng trong lĩnh vực khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo còn thiếu nhiều cơ chế quan trọng, đặc biệt là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) khiến cá nhân, tổ chức và địa phương gặp khó khăn khi triển khai trên thực tế.

Thực trạng này dẫn đến việc nhiều địa phương buộc phải chờ hướng dẫn hoặc liên tục xin ý kiến cấp trên để “an toàn”, làm chậm tiến độ và giảm hiệu quả thực thi. Nghị quyết Đại hội đã chỉ rõ vấn đề này, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu siết chặt kỷ luật thực thi và đề cao trách nhiệm cá nhân.

Từ đó, PGS.TS Phạm Thị Thúy Nga đề xuất ba nhóm giải pháp. Thứ nhất, đổi mới cách tiếp cận trong xây dựng và đánh giá pháp luật, chuyển từ ban hành luật theo kế hoạch sang ban hành luật nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn; đánh giá luật theo vòng đời và hiệu quả kinh tế - xã hội thực chất. Đánh giá luật không chỉ dừng lại ở việc ban hành có đúng tiến độ hay không, mà quan trọng hơn là sau khi ban hành, luật có tháo gỡ được điểm nghẽn hay không, hiệu quả kinh tế - xã hội đạt được như thế nào. Ngay từ khâu soạn thảo, Ban soạn thảo phải xác định rõ đời sống vận hành của luật, đồng thời bảo đảm rằng các điều kiện thực thi kèm theo phải được thiết kế ngay trong luật. Đây là vấn đề cốt lõi để bảo đảm tính khả thi trong thực tế.

Thứ hai, làm rõ trách nhiệm cá nhân và có cơ chế bảo vệ người dám làm. Hiện nay đang tồn tại tình trạng không ai dám làm vì sợ sai, mọi việc đều đẩy sang trách nhiệm tập thể, dẫn tới chậm trễ và kém hiệu quả. Vì vậy, cần có cơ chế pháp lý quy định rõ trách nhiệm cá nhân, đồng thời đặc biệt nhấn mạnh cơ chế bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám quyết định. Nghị quyết đã nêu rõ tinh thần này, nhưng vấn đề là phải thực hiện thật mạnh trong thực tiễn. Khi người được giao nhiệm vụ có cơ sở pháp lý để tự bảo vệ mình, họ mới dám thực hiện và chịu trách nhiệm”.

Thứ ba, xây dựng cơ chế phản hồi, giám sát và đánh giá chính sách từ xã hội. “Chính sách chỉ thực sự đi vào thực tiễn khi có cơ chế để người dân, doanh nghiệp và cộng đồng tham gia phản hồi, giám sát và đánh giá. Thông qua ý kiến của doanh nghiệp và người dân, chúng ta mới có thể đánh giá đúng hiệu quả của hệ thống pháp luật và chính sách, xem chính sách đó có đi vào cuộc sống hay không, có được xã hội ủng hộ hay không, và có thực sự mang lại lợi ích cho người dân hay không", PGS.TS Phạm Thị Thúy Nga nhận xét. 

Trách nhiệm của người đứng đầu

GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Phó chủ tịch thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương nêu 4 giải pháp để nhanh chóng đưa nghị quyết vào cuộc sống: Thứ nhất là chương trình hành động cụ thể. Từ báo cáo chính trị, Trung ương và các cấp ủy Đảng, các cơ quan, địa phương phải nhanh chóng cụ thể hóa chương trình hành động thành từng tiêu chí, từng công việc, từng hành động cụ thể; mỗi công việc phải rõ nội dung, rõ các bước triển khai. Nói cách khác là phải hình thành được kế hoạch cụ thể để thực hiện các nội dung đã nêu trong chương trình hành động chung từ cấp độ quốc gia đến từng bộ, ngành, địa phương.

Thứ hai là nhanh chóng hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt cơ chế vận hành của bộ máy. Bộ máy hiện nay là một bộ máy mới sau sắp xếp, việc tổ chức lại bộ máy mới không tránh khỏi những trục trặc ban đầu. Ví như ở cấp xã, phường, việc quản lý và triển khai các chương trình còn nhiều lúng túng. Các bộ, ngành cũng gặp tình trạng tương tự. Do đó, phải nhanh chóng hoàn thiện và đưa vào thực hiện cơ chế vận hành rõ ràng, chặt chẽ, bảo đảm rõ việc, rõ người, rõ trách nhiệm, rõ hiệu quả, rõ tiến độ. Ai làm việc gì, cơ quan, tổ chức nào chịu trách nhiệm phải được xác định cụ thể. Có thể nói, đây là vấn đề mang tính sống còn; nếu không giải quyết tốt cơ chế vận hành thì rất khó hiện thực hóa các chủ trương, hành động đã đề ra.

Thứ ba là vấn đề nguồn lực, một khâu mà từ trước đến nay chúng ta thường giải quyết chậm và gặp nhiều khó khăn. Nguồn lực ở đây là con người và tài chính, tiền ở đâu để thực hiện phải hết sức rõ ràng. Giao nhiệm vụ mà không có kinh phí thì rất khó làm.

Thứ tư là công tác kiểm tra, giám sát. Phải xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức; tăng cường kiểm tra, giám sát, theo dõi tiến độ để bảo đảm việc thực hiện đúng kế hoạch. Gắn với đó là phát huy mạnh mẽ vai trò giám sát của nhân dân. Thực tế, mỗi công trình đều gắn trực tiếp với lợi ích của người dân, vì vậy để người dân tham gia giám sát là hết sức quan trọng. 

PGS.TS Nguyễn Hoàng Hiển nhấn mạnh đến việc cá thể hóa trách nhiệm, quy định rõ kết quả của đơn vị là thước đo năng lực và phẩm chất của người đứng đầu. Nếu nghị quyết không đi vào cuộc sống tại địa phương/ngành đó, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm chính trị, thậm chí là từ chức. Cần gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện Nghị quyết, coi đây là tiêu chí quan trọng trong đánh giá, xếp loại cán bộ, quy hoạch, bổ nhiệm, đề bạt. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, báo chí và các tổ chức chính trị - xã hội, tạo áp lực xã hội tích cực để người đứng đầu không thể làm hình thức hay né tránh trách nhiệm.

Bên cạnh đó là lượng hóa tiêu chí đánh giá (KPI). Việc kiểm tra không thể chung chung. Cần xây dựng bộ chỉ số cụ thể cho từng giai đoạn triển khai Nghị quyết. Có sản phẩm thì mới được coi là hoàn thành nhiệm vụ.

Cuối cùng, chế tài xử lý phải nghiêm minh. Kiểm tra phải đi kèm với thanh tra và xử lý. Khen thưởng kịp thời những người làm tốt (làm đến cùng) và thay thế ngay những người đứng đầu trì trệ, "nói không đi đôi với làm".

 

Bình luận

Bình luận của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng

Đang tải bình luận...