Theo đó, đối với Ban Quản lý rừng đặc dụng được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ là 150.000 đồng/ha/năm, tại các xã khu vực II, III là 180.000 đồng/ha/năm và tại vùng đất ven biển là 225.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng đặc dụng được giao, ngoài kinh phí sự nghiệp thường xuyên cho các hoạt động của bộ máy Ban Quản lý rừng.
Về mức cấp kinh phí khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên có trồng bổ sung thuộc quy hoạch rừng đặc dụng cho Ban Quản lý rừng đặc dụng được tính như sau: đối với khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên là 1.000.000 đồng/ha/năm, tại vùng đất ven biển là 1.500.000 đồng/ha/năm, trong thời gian 6 năm; đối với khoanh nuôi xúc tiến tái sinh có trồng bổ sung 2.000.000 đồng/ha/năm trong 3 năm đầu và 1.000.000 đồng/ha/năm cho 3 năm tiếp theo.
Còn với Ban Quản lý rừng phòng hộ được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng phòng hộ là 500.000 đồng/ha/năm, tại các xã khu vực II, III là 600.000 đồng/ha/năm và tại vùng đất ven biển là 750.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng phòng hộ được giao, ngoài kinh phí sự nghiệp thường xuyên cho các hoạt động của bộ máy Ban Quản lý rừng.
Với doanh nghiệp Nhà nước, đơn vị vũ trang được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng phòng hộ là 500.000 đồng/ha/năm, tại các xã khu vực II, III là 600.000 đồng/ha/năm và tại vùng đất ven biển là 750.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng phòng hộ được giao.
UBND cấp xã được Nhà nước cấp kinh phí bảo vệ rừng phòng hộ là 150.000 đồng/ha/năm, tại các xã khu vực II, III là 180.000 đồng/ha/năm và tại vùng đất ven biển là 225.000 đồng/ha/năm trên tổng diện tích rừng phòng hộ được giao.
Ngoài ra, Nghị quyết này còn quy định một số mức hỗ trợ kinh phí bảo vệ rừng, quản lý rừng bền vững.
Hiện nay, tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận là trên 200.836 ha, trong đó diện tích có rừng là hơn 161.589 ha, tỷ lệ che phủ rừng năm 2023 đạt 47,25%.
Bình luận
Bình luận của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng
Đang tải bình luận...