Tại Diễn đàn “Ứng dụng công nghệ trong dự báo và cảnh báo sớm thiên tai” do Báo Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Cục Quản lý đê điều và Phòng, chống thiên tai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Quỹ Cộng đồng Phòng, tránh thiên tai (QPT) và Sở Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh tổ chức hôm nay (25/11), ông Nguyễn Tôn Quân, Phó Trưởng phòng Quản lý thiên tai cộng đồng và Truyền thông (Cục Quản lý Đê điều và Phòng, chống thiên tai) cho biết: “Từ đầu năm 2025 đến nay, thiên tai diễn ra dồn dập, khốc liệt, trên phạm vi rộng, mang nhiều yếu tố bất thường, đã khiến 409 người chết, mất tích; 727 người bị thương; 337.297 nhà bị sập, đổ, trôi, hư hỏng, tốc mái; 553.417 ha lúa, hoa màu và 376.792 ha cây trồng khác bị ngập úng, thiệt hại... Tổng thiệt hại về kinh tế do thiên tai gây ra ước tính trên 85.099 tỷ đồng”.
Theo ông Nguyễn Tôn Quân, trung bình giai đoạn 2006-2025, thiên tai làm 314 người chết và mất tích mỗi năm; thiệt hại kinh tế tương đương 1-1,5% GDP. Nhiệm vụ cấp thiết trong thời gian tới là thực hiện nghiêm Chỉ thị 42-CT/TW của Ban Bí thư, Luật Phòng, chống thiên tai và các văn bản hướng dẫn; đồng thời lồng ghép nội dung phòng chống thiên tai vào quy hoạch phát triển ngành, vùng.
“Chúng ta cần xem xét điều chỉnh các quy chuẩn xây dựng hạ tầng để nâng cao khả năng chống chịu trước thiên tai; nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo bằng việc mở rộng mạng lưới trạm đo mưa và cải thiện dự báo mưa lớn. Bên cạnh hoàn thiện bản đồ phân vùng rủi ro thiên tai đến từng thôn, bản, công tác rà soát, sắp xếp và di dời người dân khỏi các khu vực có nguy cơ sạt lở, lũ quét, ngập sâu phải được triển khai quyết liệt, gắn với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thuận thiên và bền vững hơn. Các tuyến đê, hồ chứa và hạ tầng phòng chống thiên tai cần được ưu tiên đầu tư, tu bổ, nâng cấp; cũng như điều chỉnh quy trình vận hành hồ chứa theo hướng dành đủ dung tích cắt lũ cho hạ du”, ông Quân nhấn mạnh.
Ông đề nghị tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng, mở rộng hợp tác quốc tế, ứng dụng khoa học - công nghệ và chuyển đổi số trong giám sát thiên tai thời gian thực. Đồng thời, huy động các nguồn lực khắc phục hậu quả theo hướng bền vững hơn, giúp người dân nhanh chóng phục hồi sau thiên tai.
Theo ông Bùi Quang Huy, Phó Giám đốc Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng, chống thiên tai (Cục Quản lý Đê điều và Phòng, Chống thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường), thiên tai đang diễn biến ngày càng phức tạp, đòi hỏi cách tiếp cận mới và chủ động hơn trong ứng phó.
“Dù đã có nhiều nỗ lực và công nghệ được triển khai nhưng vẫn còn những hạn chế cần nhìn nhận thẳng thắn. Một trong những khó khăn lớn là vai trò của cấp xã ngày càng nặng nề hơn. Nếu trước đây chủ yếu thực thi theo chỉ đạo từ huyện thì hiện nay cấp xã vừa phải chỉ đạo, vừa trực tiếp tổ chức ứng phó. Việc liên kết giữa các xã và giữa xã với tỉnh cũng đặt ra thách thức do địa bàn rộng, nguồn lực không đồng đều”, ông Bùi Quang Huy nêu vấn đề.
Cùng với đó, ông Huy nhấn mạnh chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết nhưng nhiều địa phương còn nhầm lẫn giữa “ứng dụng công nghệ thông tin” và “chuyển đổi số”. Nếu chỉ có công nghệ mà con người không thay đổi tư duy, việc vận hành sẽ gặp hạn chế. Mục tiêu quan trọng nhất của cảnh báo sớm không chỉ là gửi thông tin mà phải đảm bảo người dân nhận được - hiểu được - biết cách làm - thực hiện được.
Hiện nay, Trung tâm Chính sách và Kỹ thuật phòng, chống thiên tai đang phát triển hệ thống giám sát thiên tai cấp tỉnh, thí điểm tại Hà Tĩnh, kết nối dữ liệu giữa trung ương - tỉnh - xã và cộng đồng. Hệ thống có hai giao diện: một dành cho người dân theo dõi diễn biến, nhận hướng dẫn ứng phó và phản hồi thông tin; một dành cho chỉ đạo điều hành, tích hợp dữ liệu thời gian thực, theo dõi tiến độ sơ tán dân và quản lý điểm an toàn trên bản đồ số.
Theo ông Huy, phần mềm hỗ trợ xây dựng phương án sơ tán dân đã được đưa vào diễn tập thực tế, giúp địa phương điều chỉnh kế hoạch theo diễn biến thiên tai thay vì dựa trên bản đồ giấy cố định. Mục tiêu cuối cùng của mọi công nghệ và mô hình là bảo đảm an toàn tính mạng và tài sản, để người dân thực sự chủ động trước thiên tai.
GS.TS Đỗ Minh Đức (Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội) trình bày giải pháp phát hiện nguy cơ sạt lở và mô hình khu dân cư an toàn, dựa trên dữ liệu địa chất, công nghệ học máy và hệ thống cảnh báo thời gian thực.
Những kết quả này được thử nghiệm tại thị trấn Mù Cang Chải - nơi liên tục xảy ra sạt lở đất, lũ quét và lũ bùn đá trong những năm gần đây. Theo nhóm nghiên cứu, Mù Cang Chải xuất hiện nhiều điểm trượt đất quy mô lớn ở các tổ dân phố và đồi móng ngựa. Một số vị trí bị đào cắt mái dốc khi xây nhà làm mất ổn định địa hình, trong khi một số khối trượt lớn lại gây nghẽn dòng chảy, dẫn đến lũ bùn đá.
Tình trạng này cho thấy việc đánh giá nguy cơ và cảnh báo sớm cần được tiến hành theo cách bài bản, dựa trên đặc điểm địa chất và hiện trạng dân cư. Nhóm đã xây dựng bộ tiêu chí đánh giá nguy cơ sạt lở, lập danh sách các hộ dân, cơ quan nằm trong vùng rủi ro cao.
Từ đó, mô hình khu dân cư an toàn được đề xuất trên cơ sở ba nguyên tắc: tuân thủ quy định hiện hành về đất đai và xây dựng; chủ động phòng ngừa - ứng phó; không để xảy ra thiệt hại về người và giảm tối đa thiệt hại tài sản.
Giải pháp được triển khai theo 5 bước gồm phân vùng nguy cơ, dự báo theo ngày, nhận biết nguy cơ tại thực địa, cảnh báo theo thời gian thực và xây dựng kịch bản ứng phó. Các bản đồ phân vùng được xây dựng bằng mô hình học máy Random Forest, cho phép nhận diện những khu vực có khả năng xảy ra sạt lở hoặc lũ quét với độ chi tiết cao.
Một điểm nhấn là ứng dụng “Sạt lở Việt Nam” trên Android và Ios, tích hợp bản đồ mưa, bản đồ nguy cơ và hệ thống cảnh báo theo giờ. Thiết bị đo mưa và còi cảnh báo đã được lắp đặt ở nhiều điểm như tổ 15 phường Đồng Tâm (cũ), bến xe Mù Cang Chải, Trường PTDT Bán Trú - Tiểu Học Khao Mang và đường Âu Cơ (Tổ Thanh Hùng, Phường Văn Phú).
GS. TS Đỗ Minh Đức cho rằng việc xây dựng khu dân cư an toàn trên đất dốc hoàn toàn khả thi khi kết hợp dữ liệu địa chất, hệ thống giám sát và ứng dụng di động. Ông nhấn mạnh ba bài học quan trọng: “3 sớm” (phát hiện sớm, cảnh báo sớm, hành động sớm), “3 đúng” (đúng người, đúng việc, đúng thời điểm) và “3 cấp độ” (có thông tin, hiểu thông tin, chuyển thông tin thành hành động). Đây sẽ là nền tảng để địa phương chủ động hơn trước các hiện tượng cực đoan ngày càng gia tăng.
Phát biểu tại diễn đàn, TS Cao Đức Phát, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Chủ tịch Hội đồng quản lý Quỹ Cộng đồng Phòng, tránh thiên tai, nhấn mạnh: Những năm qua, Việt Nam liên tiếp hứng chịu nhiều trận bão, lũ trên diện rộng với mức độ nghiêm trọng và nhiều chỉ số mang tính lịch sử.
Trong ứng phó thiên tai, công tác dự phòng luôn đóng vai trò then chốt mà trước hết là năng lực giám sát, dự báo và cảnh báo sớm. Theo TS Cao Đức Phát, những năm gần đây, Nhà nước cùng các doanh nghiệp, tổ chức xã hội và cộng đồng quốc tế đã đầu tư nâng cao năng lực quan trắc, dự báo và đạt được nhiều tiến bộ, đặc biệt trong dự báo bão.
Tuy vậy, do thiên tai ngày càng khó lường và đa dạng, công tác giám sát và cảnh báo vẫn còn những hạn chế so với yêu cầu thực tiễn. “Ở chiều ngược lại, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, đang mở ra cơ hội mới để nâng cao hiệu quả dự báo. Ngoài dữ liệu vệ tinh, nhiều thiết bị tự động đo mưa, radar, cảm biến đo nhiệt độ, gió, mực nước, lưu tốc hay dịch chuyển đất đá đang được triển khai, cho phép tích hợp thông tin nhanh hơn, mô phỏng chính xác hơn theo từng địa bàn và truyền tải kịp thời đến người dân”, TS Cao Đức Phát đặt vấn đề.
Ông cho rằng các địa phương, trong đó có miền Bắc, cần nghiên cứu xây dựng mô phỏng rủi ro ngập lụt và sạt lở theo từng vùng, từng cấp độ, từng bước hoàn thiện để phục vụ cảnh báo chủ động. Những công nghệ này chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng đầu tư thiết bị quan trắc, hệ thống cảnh báo và một bộ máy vận hành ổn định, được duy trì lâu dài.
Trong 17 năm qua, Quỹ Cộng đồng Phòng, tránh thiên tai đã huy động nguồn lực xã hội để lắp đặt gần 1.000 trạm đo mưa và cảnh báo lũ tự động; hiện tiếp tục phối hợp hỗ trợ thiết bị đo mặn, cảnh báo sạt lở, xây dựng hệ thống cảnh báo số và đội xung kích phòng chống thiên tai ở cơ sở.
TS. Cao Đức Phát cho biết, khi cả nước đang hướng về miền Trung để hỗ trợ đồng bào vượt qua khó khăn, đây cũng là thời điểm cần suy nghĩ sâu hơn về việc ứng dụng khoa học kỹ thuật để xây dựng các mô phỏng cảnh báo cụ thể: mưa 300 mm, 500 mm hay 700 mm sẽ gây ngập đến đâu; trong tình huống mất điện, mất sóng, cán bộ cơ sở vẫn có thể dựa vào thông tin đầu vào để hướng dẫn người dân chủ động ứng phó.
Một số tỉnh miền Trung, như Quảng Ngãi, đã từng triển khai mô phỏng này và cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện để phản ánh thực tế chính xác hơn. “Diễn đàn mong muốn lắng nghe ý kiến từ các nhà khoa học, cơ quan chuyên môn và người dân về nhu cầu và khả năng áp dụng công nghệ mới trong dự báo, cảnh báo sớm thiên tai, nhằm để những nỗ lực chung mang lại hiệu quả thiết thực hơn cho cộng đồng và quốc gia”, TS Cao Đức Phát bày tỏ.
Bình luận
Bình luận của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng
Đang tải bình luận...