Tham dự Hội nghị có ông Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, ông Phạm Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Đài tiếng nói Việt Nam (VOV), ông Ngô Thiệu Phong, Tổng Biên tập Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam, ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Uỷ ban Tiêu chuẩn Đo lượng Chất lượng Quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ).
Hội nghị còn có sự tham dự của đại diện các bộ, ban, ngành, các viện, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng và hơn 150 đại biểu là các tập đoàn, doanh nghiệp trên toàn quốc.
Phát biểu khai mạc Hội nghị, ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Uỷ ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia cho biết, trong 5 năm qua, triển khai Đề án 100 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, hoạt động truy xuất nguồn gốc đã chuyển mình mạnh mẽ. Từ những bước đi ban đầu mang tính thí điểm, đến nay, hệ thống truy xuất nguồn gốc đã từng bước hình thành cơ sở hạ tầng dữ liệu thống nhất, kết nối nhiều bộ ngành, lan tỏa tới các địa phương và doanh nghiệp trong cả nước.
Các kết quả đạt được không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với chất lượng sản phẩm, hàng hóa mà còn mở đường cho thương mại minh bạch, an toàn, củng cố niềm tin của người tiêu dùng trong nước và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.

Bước sang giai đoạn hội nhập sâu rộng, đặc biệt là khi các thị trường lớn như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản áp dụng các quy định mới về thiết kế sinh thái, hộ chiếu số sản phẩm, truy xuất nguồn gốc bắt buộc, Việt Nam càng cần khẳng định vị thế bằng các tiêu chuẩn tiên tiến, hệ thống dữ liệu tin cậy và năng lực kết nối chuỗi cung ứng mở – bền vững – số hóa. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để hàng hóa Việt Nam bước nhanh hơn, vững vàng hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
“Định hướng nhiệm vụ giai đoạn 2026–2030, đặt mục tiêu đưa truy xuất nguồn gốc trở thành công cụ trọng yếu trong quản lý chất lượng, chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế tuần hoàn”, ông Nguyễn Nam Hải nhấn mạnh.
Theo ông Phạm Mạnh Hùng, Phó Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt và đầy biến động, năng lực truy xuất nguồn gốc không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn là thước đo phản ánh trình độ phát triển của một quốc gia. Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế đó. Muốn nâng tầm giá trị hàng hóa, củng cố thương hiệu quốc gia và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế, cần phải xây dựng được một nền tảng quản trị hiện đại, số hóa, dữ liệu hóa và có khả năng kết nối xuyên biên giới.
Do đó, Quyết định 100 của Thủ tướng Chính phủ là quyết sách có ý nghĩa chiến lược, tạo nền tảng để chúng ta xây dựng một hệ thống truy xuất nguồn gốc hiện đại – thống nhất – vận hành hiệu quả; thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong sản xuất, kinh doanh; đồng thời nâng cao niềm tin của người tiêu dùng trong và ngoài nước. Có thể nói, truy xuất nguồn gốc chính là “tấm hộ chiếu số” bảo chứng cho uy tín và chất lượng của hàng hóa Việt Nam khi tham gia vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Với vai trò là cơ quan truyền thông quốc gia, Đài Tiếng nói Việt Nam luôn coi thông tin chính thống là sức mạnh, là “hạ tầng mềm” của phát triển. Đài Tiếng nói Việt Nam luôn xác định rõ một định hướng xuyên suốt: truyền thông không đứng bên ngoài, mà trở thành một trụ cột hỗ trợ Chính phủ và doanh nghiệp trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia.
Thời gian qua, Đài Tiếng nói Việt Nam đã đẩy mạnh sản xuất các tuyến bài, chương trình, chuyên mục về chuyển đổi số, truy xuất nguồn gốc, phát triển chuỗi giá trị và hội nhập thị trường quốc tế. Đồng thời phối hợp tổ chức toạ đàm, diễn đàn, hội thảo nhằm tạo không gian để các chuyên gia, nhà quản lý và doanh nghiệp chia sẻ kinh nghiệm, phân tích chính sách. Bên cạnh đó, VOV cũng lan tỏa mạnh mẽ các câu chuyện thực tiễn, mô hình tốt, bài học hay để truyền cảm hứng đổi mới trong cộng đồng doanh nghiệp và địa phương cũng như kết nối cơ quan chức năng với doanh nghiệp thông qua các kênh truyền thông đa nền tảng của Đài Tiếng nói Việt Nam như: phát thanh, báo điện tử, báo in, mạng xã hội.
“Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy vai trò của cơ quan báo chí chủ lực, là cầu nối thông tin tin cậy, là diễn đàn của nhân dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện truy xuất nguồn gốc và nâng cao chất lượng hàng hóa Việt. Trong thời gian tới, Đài Tiếng nói Việt Nam sẽ tăng cường truyền thông theo chiều sâu nhằm nâng cao nhận thức xã hội về truy xuất nguồn gốc; giúp doanh nghiệp và người dân hiểu đúng giá trị, lợi ích và áp dụng quy trình một cách bài bản, thống nhất và phù hợp với chuẩn mực quốc gia, quốc tế.
Đồng thời mở rộng phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng các đơn vị liên quan nhằm truyền tải chính sách một cách nhanh chóng, chính xác và dễ tiếp cận hơn; bảo đảm thông tin quan trọng được lan tỏa tới đúng nhóm đối tượng, vào đúng thời điểm. Cũng như phát huy thế mạnh báo chí dữ liệu (data journalism), ứng dụng công nghệ truyền thông số để trực quan hóa thông tin; qua đó biến những mô hình, quy trình truy xuất nguồn gốc vốn phức tạp trở nên gần gũi, đơn giản và dễ triển khai hơn đối với doanh nghiệp và các địa phương”, ông Phạm Mạnh Hùng khẳng định.
Chia sẻ tại Hội nghị, Ông Bùi Bá Chính - Giám đốc Trung tâm Mã số mã vạch quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết; ngay sau khi Đề án 100 của Thủ tướng Chính phủ ban hành có hiệu lực, việc triển khai truy xuất nguồn gốc hàng hoá tại địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực.
Hiện toàn bộ 34 tỉnh/thành phố mới (sau khi sắp xếp từ 63 đơn vị hành chính cũ) đã xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án “Triển khai, áp dụng và quản lý hệ thống truy xuất nguồn gốc” trên địa bàn tỉnh. 100% địa phương đã xác định nhóm sản phẩm chủ lực hoặc sản phẩm OCOP làm trọng tâm triển khai áp dụng truy xuất nguồn gốc (TXNG); trên 25.000 doanh nghiệp áp dụng hệ thống TXNG.
Các địa phương đã triển khai nhiều hình thức hỗ trợ thiết thực, trong đó phổ biến nhất là cấp tem, mã QR, hỗ trợ chi phí áp dụng và hỗ trợ kỹ thuật. Tổng lượng tem, mã TXNG được cấp vượt 20 triệu tem, phản ánh quy mô hỗ trợ lớn và nhu cầu ứng dụng TXNG ngày càng tăng. Tại các địa phương có thế mạnh công nghiệp 7 và dịch vụ, sự hỗ trợ được triển khai ở quy mô lớn hơn. TP. Hà Nội đã hỗ trợ hơn 3.000 doanh nghiệp sản xuất, chế biến triển khai hệ thống TXNG, TP.HCM đã phối hợp, hỗ trợ với hơn 500 doanh nghiệp và hàng nghìn hợp tác xã, hộ kinh doanh triển khai TXNG trong các lĩnh vực nông sản, thực phẩm chế biến và dược phẩm
Công tác tuyên truyền, đào tạo được triển khai rộng khắp: các đơn vị thuộc Bộ khoa học và Công nghệ đã tổ chức hơn 100 khóa đào tạo, tập huấn trong giai đoạn 2020 - 2025. Cả nước tổ chức trên 10.000 Khóa đào tạo liên quan đến truy xuất nguồn gốc với trên 1 triệu lượt tham gia cả trực tiếp và trực tuyến.
Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa Quốc gia đã chính thức được đưa vào vận hành từ 1/10/2024, đóng vai trò cầu nối để kết nối tất cả thành phần tham gia trong chuỗi cung ứng, giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp. Hiện đã có 13 tỉnh/thành phố có hệ thống quản lý thông tin TXNG kết nối kỹ thuật với Cổng trong đó 4 địa phương kết nối và chia sẻ dữ liệu với Cổng bao gồm: Lào Cai, Hưng Yên, An Giang, Cần Thơ; 100% doanh nghiệp sử dụng mã số mã vạch Việt Nam (đầu mã 893) với trên 1,9 triệu sản phẩm đã được định danh trên Cổng, hơn 5000 sản phẩm đủ chuỗi được kết nối và chia sẻ dữ liệu với Cổng.
Về tiêu chuẩn quốc gia, cho đến nay, Bộ Khoa học và Công nghệ đã công bố 35 tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) về truy xuất nguồn gốc và mã truy vết, định danh sử dụng trong truy xuất nguồn gốc. Bao gồm các nhóm tiêu chuẩn về: mã truy vết, định danh; tiêu chuẩn quy định chung cho hệ thống truy xuất nguồn gốc; tiêu chuẩn truy xuất nguồn gốc cho sản phẩm thịt gia súc, gia cầm, sữa và các sản phẩm từ sữa, thủy sản… Các tiêu chuẩn này đã bao phủ hầu hết các nhóm sản phẩm chủ lực cũng như yêu cầu đối với hệ thống. Đây là bước tiến quan trọng trong việc xây dựng nền tảng kỹ thuật, giúp các địa phương triển khai thống nhất, đồng bộ.
Về pháp luật, Bộ Khoa học và Công nghệ được Chính phủ giao chủ trì xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, trong đó lần đầu tiên bổ sung các quy định về quản lý và tổ chức thực hiện truy xuất nguồn gốc. Luật sửa đổi bổ sung một số điểu của Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa (Luật số 78/2025/QH15) đã được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2025; hiện nay, Dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành Luật đang được trình Chính phủ ban hành, tạo cơ sở pháp lý để từng bước áp dụng TXNG như một yêu cầu bắt buộc đối với nhóm hàng hóa rủi ro.
“Công tác xây dựng và vận hành hệ thống truy xuất nguồn gốc đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, bước đầu hình thành mạng lưới kết nối từ trung ương đến địa phương. Tuy nhiên, để hệ thống phát huy hiệu quả toàn diện, trong giai đoạn tới cần tiếp tục đẩy mạnh việc chuẩn hóa công nghệ, kết nối và chia sẻ dữ liệu, hỗ trợ hạ tầng cho các tỉnh miền núi và bảo đảm kết nối thông suốt với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hóa Quốc gia”, ông Bùi Bá Chính chia sẻ thêm.
Phát biểu định hướng cho việc triển khai Đề án 100 trên phạm vi cả nước, Lê Xuân Định, Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh: Sau 5 năm triển khai, Đề án 100 đã chứng minh tính đúng đắn của một chủ trương lớn. 5 năm qua là hành trình nỗ lực không ngừng của các cơ quan quản lý, các bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia và đội ngũ các nhà khoa học.
Từ chỗ truy xuất nguồn gốc còn là khái niệm tương đối mới mẻ, đến nay Việt Nam đã xây dựng được nền tảng chính sách, mô hình triển khai và hệ thống kết nối tương đối đồng bộ góp phần minh bạch thông tin sản phẩm và bảo vệ người tiêu dùng và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam.
“Thế giới đang dịch chuyển rất nhanh, nhiều thị trường xuất khẩu lớn yêu cầu tiêu chuẩn bắt buộc về thông tin, về môi trường và tính bền vững. Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị đã đặt khoa học công nghệ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là một trong những đột phá chiến lược. Điều đó tạo ra cơ hội to lớn để chúng ta đưa truy xuất nguồn gốc trở thành xương sống của quản lý chất lượng, là động lực phát triển của hệ sinh thái sản xuất kinh doanh hiện đại” -ông Lê Xuân Định nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Thứ trưởng Bộ khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định cũng nêu 5 điểm mấu chốt cần phải thực hiện trong thời gian tới. Thứ nhất là phải xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc quốc gia đạt mức chuẩn hoá dữ liệu liên thông đa ngành, kết nối quốc tế, ứng dụng mạnh mẽ AI, Blockchain, IOT và tích hợp các nền tảng số quốc gia. Thứ hai là phải đảm bảo mọi ngành hàng chủ lực từ nông nghiệp, công nghiệp, dược phẩm tới hàng tiêu dùng…đều phải đều phải áp dụng truy xuất nguồn gốc theo chuẩn quốc gia thống nhất. Thứ ba là những định hướng này cần phải được triển khai nhanh hơn, quyết liệt hơn và đồng bộ hơn. Thứ tư là trong thời gian tới Đề án 100 phải chuyển từ triển khai sang đột phá và chuyển từ thí điểm sang chuẩn hoá.
Thứ năm là cần phải chuyển từ kết nối kỹ thuật sang liên thông dữ liệu quốc gia. Nếu không có sự liên thông, không đảm bảo sự liên thông của dữ liệu lớn thì không thể kết nối với quốc tế. Do đó cần phải lan toả để tất cả các ngành hàng đều có cơ hội tham gia vào truy xuất sản phẩm hàng hoá. Đặc biệt phải kiến tạo được hệ thống truy xuất mà ở đó doanh nghiệp phải cảm thấy có lợi ích để họ tham gia vào.
Cũng tại Hội nghị, Ban tổ chức đã vinh danh và trao giấy xác nhận cho các địa phương và doanh nghiệp gồm: Sở KHCN tỉnh Lào Cai, Sở KHCN tỉnh An Giang, Sở KHCN tỉnh Hưng Yên, Sở KHCN tỉnh Cần Thơ, Công ty Cổ phần Công nghệ Checkee, Công ty Cổ phần Icheck Trace. Đây là những đơn vị đã thực hiện kết nối với Cổng thông tin truy xuất nguồn gốc sản phẩm, hàng hoá quốc gia.
Cùng với đó, lễ ký kết hợp tác trong lĩnh vực truy xuất nguồn gốc giữa Trung tâm Mã số, mã vạch Quốc gia và Công ty Cổ phần Traphaco cũng được tổ chức. Đây là một dấu mốc quan trọng nhằm thúc đẩy việc chuẩn hoá dữ liệu, hiện đại hoá hạ tầng truy xuất nguồn gốc và mở rộng kết nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với các doanh nghiệp tiên phong trong lĩnh vực sản xuất – phân phối dược phẩm và hàng hoá.
Trong khuôn khổ Hội nghị, Hội thảo “Truy xuất nguồn gốc – Nâng cao giá trị hàng hóa Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu” được tổ chức với sự tham gia của đại diện các bộ, ngành, cơ quan quản lý, chuyên gia trong nước và quốc tế cùng đông đảo doanh nghiệp. Các nội dung tập trung vào những điểm mới của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2025, yêu cầu từ thị trường xuất khẩu và các giải pháp công nghệ nâng cao hiệu quả quản lý, minh bạch thông tin và gia tăng giá trị hàng hóa Việt Nam.
Bình luận
Bình luận của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng
Đang tải bình luận...