Sau gần một tuần liên tiếp không kích và đáp trả lẫn nhau, xung đột giữa Mỹ và Iran tiếp tục leo thang, lan rộng tới các mục tiêu ở khu vực Vùng Vịnh và Jordan. Cả Washington và Tehran đều tuyên bố biên bản ghi nhớ (MoU) ký hồi tháng 6 về gia hạn lệnh ngừng bắn và nối lại đối thoại đã không còn hiệu lực, song vẫn để ngỏ khả năng nối lại các nỗ lực ngoại giao.
Pakistan - quốc gia đóng vai trò trung gian chính trong các cuộc tiếp xúc giữa Mỹ và Iran - ngày 16/7 đã kêu gọi hai bên chấm dứt vòng xoáy bạo lực mới và nối lại đàm phán. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Pakistan Tahir Andrabi nhấn mạnh Islamabad “tin tưởng chắc chắn không có giải pháp nào thay thế được đối thoại và ngoại giao nhằm hướng tới các mục tiêu chung là hòa bình, ổn định và phát triển lâu dài”.
Các tuyên bố công khai của lãnh đạo Mỹ và Iran cho thấy hai bên chưa sẵn sàng nhượng bộ. Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiều lần tuyên bố rằng Iran đang “tuyệt vọng” và muốn đạt được một thỏa thuận hòa bình với Washington, song ông không tin Tehran sẽ thực hiện đúng các cam kết.
Trong khi đó, giới chức Iran giữ lập trường cứng rắn. Chủ tịch Quốc hội đồng thời là Trưởng đoàn đàm phán Iran Mohammad Bagher Ghalibaf ngày 16/7 khẳng định Iran đang tiến hành “một cuộc chiến sinh tồn với nước Mỹ” và không còn lý do để tiếp tục tuân thủ thỏa thuận hòa bình trước đó.
Tuy nhiên, câu hỏi được nhiều chuyên gia đặt ra là liệu Washington hay Tehran có đủ khả năng theo đuổi một cuộc chiến kéo dài thêm nhiều tháng hay không.
Nền kinh tế Iran vốn đã chịu áp lực nặng nề do nhiều thập niên bị Mỹ áp đặt các lệnh trừng phạt, nay tiếp tục chịu thêm tác động từ cuộc xung đột. Là một trong những quốc gia bị trừng phạt nhiều nhất thế giới, Iran gặp khó khăn trong xuất khẩu dầu mỏ, tiếp cận hệ thống tài chính quốc tế và sử dụng các tài sản bị phong tỏa.
GDP bình quân đầu người của Iran giảm từ khoảng 8.000 USD năm 2012 xuống còn khoảng 5.000 USD vào năm 2024. Xuất khẩu dầu cũng giảm từ 2,2 triệu thùng/ngày năm 2012 xuống còn khoảng 1,5 triệu thùng/ngày trong năm 2025.
Sau khi Mỹ và Iran ký biên bản ghi nhớ hồi tháng 6, Washington đã dỡ bỏ phong tỏa hải quân, miễn trừ trừng phạt trong 60 ngày và cam kết giải phóng một phần tài sản bị phong tỏa của Iran. Đồng rial của Iran tăng khoảng 15% ngay trong ngày thỏa thuận được ký. Tuy nhiên, việc Mỹ tái áp đặt các biện pháp trừng phạt trong tuần này tiếp tục giáng đòn mạnh vào nền kinh tế vốn đang suy yếu của Iran.
Theo đánh giá của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), dù vẫn duy trì các cuộc tấn công nhằm vào căn cứ quân sự Mỹ tại các nước láng giềng vùng Vịnh, hạ tầng quân sự của Iran đã bị suy giảm đáng kể sau các đợt không kích của Mỹ và Israel trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.
Tính đến ngày 1/4, Iran được cho là đã tiêu hao khoảng 30% kho tên lửa và 60% kho máy bay không người lái (UAV) trước chiến tranh. Nhiều cảng biển, tàu chiến, cơ sở sản xuất vũ khí và hạ tầng hải quân cũng trở thành mục tiêu tấn công.
Mỹ tuyên bố đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho các cơ sở hạt nhân của Iran trong cuộc chiến 12 ngày hồi tháng 6/2025. Các cuộc không kích được nối lại từ tuần trước tiếp tục nhằm vào nhiều mục tiêu quân sự của Iran, trong đó có đảo chiến lược Greater Tunb.
Quan hệ giữa Tehran và các nước vùng Vịnh cũng chịu sức ép khi xung đột leo thang. Hiện Mỹ duy trì hiện diện quân sự tại ít nhất 19 địa điểm trên khắp Trung Đông, trong đó có Bahrain, Jordan, Kuwait, Qatar, Saudi Arabia và Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE). Iran khẳng định các cuộc tấn công của nước này chỉ nhằm vào các mục tiêu quân sự của Mỹ. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu xung đột, một số đòn tấn công đã đánh trúng các mục tiêu không thuộc các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ các nước vùng Vịnh.
Mỹ cũng phải đối mặt với nhiều sức ép và đến nay vẫn chưa thể buộc Iran chấp nhận các điều kiện của Washington. Sau làn sóng không kích mới, giá dầu thô tăng khoảng 12% do lo ngại hoạt động vận tải qua eo biển Hormuz tiếp tục bị gián đoạn. Trước chiến tranh, khoảng 20% lượng dầu mỏ toàn cầu đi qua tuyến hàng hải này. Việc Iran phong tỏa eo biển Hormuz đã khiến giá năng lượng trên thế giới biến động mạnh. Tại Mỹ, giá xăng tăng từ 2,98 USD/gallon trước chiến tranh lên đỉnh 4,63 USD/gallon vào tháng 5.
Giá nhiên liệu tăng kéo theo chi phí sinh hoạt leo thang, khiến chiến dịch quân sự nhằm vào Iran ngày càng vấp phải sự phản đối của người dân Mỹ. Theo khảo sát của YouGov công bố trong tuần này, 57% người Mỹ cho rằng quyết định phát động chiến tranh của chính quyền Tổng thống Trump là sai lầm.
Diễn biến này được đánh giá là bất lợi cho đảng Cộng hòa trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11, khi đảng này có nguy cơ đánh mất thế đa số tại Quốc hội. Một số cuộc thăm dò gần đây cho thấy đảng Dân chủ đang nhỉnh hơn về tỷ lệ ủng hộ.
Bên cạnh áp lực về kinh tế và chính trị, Mỹ cũng đang phải đối mặt với nguy cơ suy giảm kho dự trữ vũ khí. Theo CSIS, kho dự trữ vũ khí của Mỹ đang giảm nhanh, dù chưa đến mức báo động. Washington chủ yếu sử dụng 7 loại vũ khí hiện đại và đắt đỏ nhất để tấn công Iran. Trong đó, ít nhất 4 loại đã tiêu hao khoảng một nửa số lượng dự trữ ngay trong giai đoạn đầu cuộc chiến.
Các chuyên gia cho rằng Mỹ sẽ cần từ vài tháng đến vài năm để bổ sung lượng vũ khí này, ngay cả khi Tổng thống Trump đã sử dụng Đạo luật Sản xuất Quốc phòng nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp quốc phòng tăng sản lượng.
Ngoài chi phí quân sự lên tới hàng tỷ USD, Mỹ cũng chịu tổn thất nhân lực. Theo Trung tâm Tiến bộ Mỹ, tính đến ngày 14/7, đã có 14 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và 414 người khác bị thương trong cuộc xung đột.
Giáo sư Alam Saleh thuộc Đại học Quốc gia Australia cho rằng dù Iran phải đối mặt nhiều khó khăn về kinh tế và ngoại giao, giới lãnh đạo nước này coi đây là “cuộc chiến sinh tồn” nên khó có khả năng nhượng bộ.
“Iran dựa nhiều vào sản xuất trong nước và đã ‘sống chung’ với các lệnh trừng phạt suốt gần 47 năm. Họ đã tìm ra nhiều cách để thích nghi”, ông Saleh nói.
Theo ông, Tehran cũng không muốn bị Washington xem là yếu thế nên sẽ không chấp nhận một thỏa thuận nếu không bảo đảm được an ninh quốc gia.
Sau lệnh ngừng bắn hồi tháng 4, Iran đã nhanh chóng khôi phục dây chuyền sản xuất UAV. Một số chuyên gia ước tính nước này có thể tái lập hoàn toàn kho UAV chỉ trong vài tháng.
“Iran sẽ không ký bất kỳ thỏa thuận nào nếu không có bảo đảm về an ninh. Dù chịu sức ép kinh tế đến đâu, họ cũng sẽ không thỏa hiệp”, ông Saleh nhận định.
Về phía Mỹ, chuyên gia Brian Finucane thuộc Tổ chức Khủng hoảng Quốc tế (International Crisis Group) cho rằng mối lo lớn nhất của Washington không phải cuộc chiến với Iran mà là nguy cơ thiếu hụt vũ khí nếu xảy ra xung đột với các cường quốc khác.
Ông lưu ý tốc độ tiêu hao các loại vũ khí quan trọng như tên lửa đánh chặn Patriot hay tên lửa hành trình Tomahawk đang ở mức rất cao.
“Đây đều là những loại vũ khí mà Mỹ có thể cần nếu xảy ra một kịch bản đối đầu quân sự với một cường quốc quân sự”, ông Finucane nói.
Theo Giáo sư Saleh, dù cả Mỹ và Iran đều phải trả giá nếu chiến tranh kéo dài, Washington đang chịu tổn hại lớn hơn về uy tín quốc tế. “Các đối thủ của Mỹ đang theo dõi sát diễn biến xung đột và chứng kiến Washington chưa thể buộc Iran phải khuất phục, dù đã sử dụng nhiều biện pháp. Điều đó cho thấy sức mạnh quân sự của Mỹ cũng có những giới hạn khi đối đầu với một quốc gia tầm trung như Iran”, ông nhận định.
Bình luận
Bình luận của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng
Đang tải bình luận...