Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,2% của 2024. Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt 297.500 đơn vị, tăng tới 27,4% so với năm 2024. Tốc độ mở rộng sản xuất, tăng quy mô doanh nghiệp và thu hút đầu tư cho thấy nền tảng tăng trưởng mạnh mẽ.
Dù vậy, bức tranh nội tại của nền sản xuất lại còn nhiều khoảng trống. Cả nước hiện có gần 7.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, tập trung ở cơ khí, ô tô, điện – điện tử, dệt may và công nghệ cao. Trong số đó, chỉ gần 300 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn lớn như Samsung, Honda, Toyota, LG. Tỷ lệ nội địa hóa của nhiều ngành vẫn chỉ đạt 30 - 40%, thấp hơn nhiều mục tiêu 50 - 60% mà Chính phủ đặt ra.
Nhìn sâu hơn, mô hình gia công truyền thống khiến doanh nghiệp Việt phụ thuộc gần như hoàn toàn vào yêu cầu và tiêu chuẩn của đối tác nước ngoài. Doanh nghiệp nhận bản vẽ, sản xuất theo đơn đặt hàng, không có quyền quyết định chiến lược sản phẩm hay định giá, từ đó biên lợi nhuận luôn bị bó hẹp. Khi giá nguyên liệu hay chi phí logistics biến động, doanh nghiệp thường phải tự “gánh” thay vì chuyển chi phí sang khách hàng.
Rủi ro càng cao hơn khi doanh nghiệp chỉ có một vài khách hàng lớn. Chỉ cần đối tác chuyển dây chuyền sang quốc gia có chi phí thấp hơn, đơn hàng có thể sụt giảm đột ngột, kéo theo hệ lụy đứt gãy chuỗi cung ứng nội bộ, hàng tồn kho tăng cao và chi phí phát sinh liên tục.
Một điểm yếu khác là năng lực đổi mới sáng tạo còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa đầu tư bài bản cho nghiên cứu – phát triển (R&D) và thiết kế sản phẩm. Hàng hóa xuất xưởng mang thương hiệu đối tác, không sở hữu tài sản trí tuệ nên không thể nâng cao biên lợi nhuận dài hạn. Thiếu kỹ sư thiết kế giỏi, thiếu quản trị sản xuất hiện đại khiến việc cải tiến sản phẩm khó được hiện thực hóa.
Trong bối cảnh các nền kinh tế trên thế giới đang siết chặt tiêu chuẩn môi trường, tăng thuế nhập khẩu và thiết lập hàng loạt rào cản kỹ thuật, lợi thế chi phí thấp của Việt Nam đang mờ dần. Cùng lúc, doanh nghiệp Việt lại yếu ở khâu cuối chuỗi giá trị như thương hiệu, marketing, bán lẻ và dịch vụ hậu mãi, khiến giá trị gia tăng liên tục rơi vào tay nhà phân phối quốc tế.
Theo PGS. TS. Phạm Thế Anh, Trưởng khoa Kinh tế học, Đại học Kinh tế Quốc dân, tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trong GDP của Việt Nam đã tăng từ dưới 30% đầu những năm 1990 lên trên 80% thời gian gần đây - một trong những mức độ mở thương mại cao nhất thế giới. Việc ký kết hàng loạt hiệp định thương mại giúp xuất khẩu bứt tốc và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mạnh mẽ.
Năm 2025, tổng vốn FDI đăng ký đạt 38,42 tỷ USD, tăng 0,5% so với năm 2024. Tuy nhiên, phần giá trị mà Việt Nam “giữ lại” khá thấp. TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chỉ ra: khu vực FDI đóng góp khoảng 20% GDP nhưng lại chiếm trên 71% kim ngạch xuất khẩu và tạo ra chỉ 10% việc làm trong nước. Dòng tiền lợi nhuận chuyển ngược về nước đầu tư ngày càng tăng, khiến tăng trưởng GDP không tương ứng với mức tăng nguồn lực nội tại.
GS. TS. Hoàng Văn Cường, Uỷ viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng, Uỷ viên Uỷ ban Kinh tế - Tài chính của Quốc hội cũng đưa ra dẫn chứng: “Xuất khẩu của chúng ta đạt 500 tỷ USD, nhưng Việt Nam chỉ giữ lại khoảng 100 tỷ USD - tức là 20%. Như vậy, chúng ta đang tăng trưởng hộ cho thế giới”.
Trong khi đó, sự phụ thuộc vào các thị trường lớn như: Mỹ, EU khiến hàng hóa Việt dễ tổn thương trước các rào cản thuế quan và thay đổi chính sách. Nếu không thay đổi mô hình tăng trưởng, Việt Nam có thể rơi vào bẫy thu nhập trung bình khi cơ hội dân số vàng trôi qua.
Theo các chuyên gia, Việt Nam vẫn có thể tiếp tục mô hình tăng trưởng dựa vào xuất khẩu nhưng phải thay đổi chất của tăng trưởng - chính doanh nghiệp Việt phải nắm phần giá trị lớn hơn trong từng sản phẩm mang đi toàn cầu. Song song với đó, nội lực phải trở thành trụ cột, đặc biệt là sức mua trong nước và khu vực doanh nghiệp nội địa. Khi tiêu dùng trong nước tăng, doanh nghiệp có dư địa để đầu tư dài hạn cho thương hiệu và công nghệ thay vì chạy theo đơn hàng ngắn hạn giá rẻ.
Chính phủ đã ban hành nhiều nghị quyết mang tính đột phá để thúc đẩy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, hoàn thiện thể chế và phát triển kinh tế tư nhân như Nghị quyết 57, Nghị quyết 59, Nghị quyết 66 và Nghị quyết 68. Thách thức hiện nay là cần nhanh chóng đưa những chính sách này đi vào cuộc sống, tháo gỡ rào cản pháp lý và tạo điều kiện để doanh nghiệp đổi mới mạnh mẽ.
Việt Nam đang có cơ hội vàng để chuyển đổi vai trò trong chuỗi giá trị toàn cầu, từ “công xưởng gia công” sang trung tâm sản xuất công nghệ cao. Tuy nhiên, con đường nâng tầm giá trị không đến từ việc thay đổi nhỏ lẻ, mà đòi hỏi chiến lược đồng bộ - khi Nhà nước tạo nền tảng, doanh nghiệp chủ động bứt phá, và hệ thống tài chính - khoa học công nghệ đồng hành sát cánh. Chỉ khi làm chủ thiết kế, công nghệ và thị trường, doanh nghiệp Việt mới có thể thoát khỏi vòng xoáy gia công giá rẻ, đóng góp nhiều hơn vào tăng trưởng và hướng tới mục tiêu một Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Bình luận
Bình luận của bạn sẽ được xét duyệt trước khi đăng
Đang tải bình luận...